Mô hình chu kỳ kinh tế nhà đất

So sánh mô hình chu kỳ kinh tế điển hình trong lịch sử trong suốt cuộc khủng hoảng nhà đất với sự phát triển hiện hành tại Mỹ và ở ba nước châu Âu cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP ở Anh và Tây Ban Nha không phù hợp với các trải nghiệm lịch sử. Cũng như vậy, sự phát triển ở Pháp là chỉ hơi tệ hơn tỷ lệ trung bình được đề xuất trong lịch sử. Ngược lại, tăng trưởng GDP ở Mỹ khác đáng kể theo sự phát triển trong suốt một cuộc khủng hoảng. Riêng trong quý hai và quý ba của năm 2007, tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn hẳn những so sánh được đề xuất trong quá khứ. Ở thời kì cao điểm, các dữ liệu gần đây nhất cho thấy, Mỹ sẽ chạm đáy trong quý bốn năm 2008, ngay khi các hậu quả nghiêm trọng nhất của cuộc khủng hoảng nhà ở chạm đáy .

Ba nước châu Âu cho thấy sản lượng giảm sau khi giá đạt đỉnh, mặc dù đỉnh này không giống như được công bố trong các cuộc khủng hoảng .Tại Mỹ, sản lượng gần như đứng im, ngay cả khi giá nhà bùng nổ cũng như sự sụp đổ sau đó. Tiêu thụ tư nhân và đầu tư kinh doanh phát triển một mô hình tương tự như tăng trưởng GDP. Ở ba nước châu Âu, sự giảm sút lớn song hành với tình hình thực tế có thể được quan sát thấy, trong khi tăng trưởng tiêu dùng tại Mỹ phát triển tốt hơn trong một cuộc khủng hoảng vừa phải. Ngược lại, sự đầu tư vào nhà ở giảm nhiều hơn ở Mỹ, khi so sánh với các cuộc khủng hoảng trước đây. Sự tăng trưởng quá mức trong phân khúc dưới chuẩn có thể đóng một vai trò đáng kể ở đây, dẫn đến sự đầu tư nhiều hơn vào nhà ở trong giai đoạn trước khủng hoảng, và đưa đến sự điều chỉnh mạnh mẽ trong lĩnh vực nhà ở sau đó.

Trong trường hợp của các nước châu Âu, độ lệch của đầu tư vào nhà ở có xu hướng khá ổn định khi so sánh với một cuộc khủng hoảng điển hình. Tuy nhiên, gần đây đầu tư vào nhà ở đã giảm ở tất cả các quốc gia này. Việc tăng lãi suất thực bắt đầu ở cả 4 quốc gia trên trong khoảng 2 năm trước khi giá đạt đỉnh. Tại Mỹ, lãi suất thực bắt đầu giảm trong bốn quý sau khi giá đạt đỉnh và chuyển sang âm sau hai năm. Ở các nước châu Âu lãi suất thực giảm xuống khi bắt đầu cuộc khủng hoảng. Tuy nhiên, điều này chủ yếu là do giá hàng hóa tăng tại thời điểm đó. Hơn nữa, các mức lãi suất danh nghĩa bắt đầu giảm không phải trước quý 4 – 2008 tại các quốc gia này. Tại Mỹ, Tây Ban Nha và Pháp, chúng ta cũng có thể quan sát thấy lãi suất thực trong dài hạn rất thấp và thậm chí âm trước khi giá đạt đỉnh, và ở Vương quốc Anh lãi suất thực cũng giống như vậy trước cuộc khủng hoảng. Điều này cho thấy một mối quan hệ chặt chẽ giữa giá nhà và điều kiện tiền tệ, điều kiện tiền tệ khuyến khích sự tăng giá trước khủng hoảng và đóng góp vào sự kết thúc của sự bùng nổ nhà ở. Giá giảm mạnh ở cả bốn quốc gia trong quý cuối giống với các cuộc khủng hoảng trước đây.