Tình hình thực hiện công tác quản lý môi trường khu công nghiệp

Môi trường không khí xung quanh KCN: theo kết quả giám sát môi trường 6 tháng cuối năm 2009 của KCN Mỹ Phước thì môi trường không khí xung quanh KCN vẫn đang trong tình trạng bình thường, mức độ ô nhiễm không lớn lắm. Hầu hết các chỉ tiêu đo đạc và phân tích môi trường không khí trong KCN Mỹ Phước đều thấp hơn tiêu chuẩn cho phép.

 Nước thải sản xuất: trong báo cáo giám sát môi trường vừa qua có 10 công ty trong KCN được lấy mẫu ngẫu nhiên, trong đó có 3 nhà máy có đầu tư hệ thống xử lý nước thải cục bộ. Kết quả phân tích mẫu cho thấy:

– Đối với nhà máy có hệ thống XLNT: nồng độ các chỉ tiêu cơ bản trong nước thải ( TSS, BOD5, COD, N tổng, P tổng, Coliform) đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép. Chứng tỏ hệ thống XLNT cục bộ của các công ty đều chưa xử lý đạt yêu cầu hoặc không hoạt động.

– Đối với các nhà máy không có hệ thống XLNT, thải trực tiếp vào cống thoát nước thải của KCN: nồng độ các chỉ tiêu cơ bản trong nước thải đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép.

 Nước mặt: nước thải sx của KCN Mỹ Phước không qua hệ thống XLNT tập trung mà thải thẳng ra sông Thị Tính. Kết quả phân tích mẫu nước mặt ở sông Thị Tính cho thấy nước cũng không đạt tiêu chuẩn môi trường. Các chỉ tiêu BOD5, COD, Cr (VI), DO và coliform không nằm trong giới hạn cho phép, chứng tỏ nguồn nước mặt cũng đang dần bị ô nhiễm.

 Nước ngầm: chất lượng nước ngầm của KCN Mỹ Phước còn tương đối tốt.

 Môi trường đất: chưa bị ô nhiễm

 Chất thải rắn: được phân loại tại nguồn

– Chất thải rắn sinh hoạt: được thu gom, tập trung đúng nơi quy định, sau đó được đơn vị có chức năng thu gom và xử lý.

– Chất thải rắn công nghiệp không nguy hại: nếu CTR có khả năng tái chế thì được sử dụng hoặc bán cho các ngành CN khác. Còn CTR không có khả năng tái chế, các nhà máy tự hợp đồng với các đơn vị có chức năng thu gom và xử lý.

– Chất thải rắn công nghiệp nguy hại: được các nhà máy hợp đồng với tư nhân để xử lý. Tình hình này đã gián tiếp phản ánh chất lượng công tác QLMT KCN chưa đạt yêu cầu.